kiến thức về bảo hiểm hiện đại

kiến thức về bảo hiểm

chia sẻ

KỸ NĂNG GỌi ĐIỆN THOẠI CHO KHÁCH HÀNG

NGUYỄN THU HỒNG ĐÀO TẠO CATHAY




 >>    Các bạn đại lý bảo hiểm thân mến !

Các  cuộc  điện  gọi  đến  khách  hàng được thực hiện vì nhiều lý do như: bán hàng, tiến hành các cuộc khảo sát, theo dõi dịch vụ, khuyến mãi, tìmkiếm khách hàng mục tiêu và giải đáp những thắc mắc.

 Người nhận được các cuộc gọi như vậy sẽ dễ tiếp thu hơn khi chúng ta biết cách sử dụng các kỹ thuật điện thoại để gắn kết khách hàng, giải quyết phản đối và áp dụng dàn ý cho mục đích cuộc gọi mà sẽ thôi thúc người nhận cuộc gọi tham gia cuộc trò chuyện khác nhau 

Nhân viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ khách hàng đôi khi cũng ngại
gọi điện. Họ không thích xem mình là kẻ làm phiền và lúc nào cũng gặp phải lời
từ chối. Còn tệ hơn nữa họ cảm thấy ngày càng khó khăn hơn để đạt được điều
đó đơn giản là vì bạn có số điện thoại và địa chỉ email không có nghĩa là người
nhận cuộc gọi muốn nghe bạn.

Cư xử một cách thân thiện, chuyên nghiệp khi gọi điện đến khách hàng là một
cách giúp bạn làm tổ chức của mình nổi bật trong cạnh tranh. Phần này sẽ xoay
quanh các kỹ năng xem xét mối tương tác với khách hàng – một khoảnh khắc
quyết định có thể tạo ra hoặc phá vỡ các mối quan hệ.

 Bạn sẽ tìm hiểu các cách giúp thông thạo quy trình này và làm cho các kết quả của bạn dễ dự đoán hơn để bạn có thể lập lại thành công.

                                                  chúc các bạn thành công khi hẹn gặp KH

BÍ QUYẾT TRÌNH BÀY HIỆU QUẢ

Kỹ năng mềm là điều then chốt quyết định thành công của bạn. Học kỹ năng mềm, tức là bạn cần phải nâng cao, cải thiện các kỹ năng: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, kỹ năng lãnh đạo,…


NGUYỄN THU HỒNG ĐÀO TẠO CATHAY

  Hôm nay, Góc Kỹ Năng xin giới thiệu tới bạn bí quyết để thuyết trình hiệu quả – một kỹ năng quan trọng giúp bạn tự tin vững bước trên con đường thành công! Để buổi thuyết trình của bạn thành công, hãy chú ý đến 2 công đoạn dưới đây:

 GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ


 a. Nội dung: Bạn nên dùng nhiều thời gian để nghiên cứu kỹ về chủ đề, đề tài của bạn, và phát triển thành các ý tưởng

. b. Cách tổ chức bài diễn thuyết: Sắp xếp các ý tưởng của bạn vào các phần mở bài, thân bài, kết luận một cách logic.

 c. Thẻ ghi chú: Làm các tấm cards ghi chú những ý chính sẽ nói trong bài diễn văn. Nhớ là chỉ ghi những ý chính một cách ngắn gọn thôi nhé. Chúng sẽ giúp bạn nhớ lại nhanh chóng các ý chính mà không cần phải đọc nhiều.

 d. Thực hành: Muốn thuyết trình thành công và hiệu quả còn đòi hỏi bạn cần phải thực tập nhiều lần trước ngày thuyết trình

GIAI ĐOẠN TRÌNH BÀY


  a. Phong thái tự nhiên: Cố gắng thuyết trình một cách tự nhiên, như đang trò chuyện với khán giả. Tránh nói một cách đều đều như trả bài, cũng không nên chỉ nhìn và đọc lại bài thuyết trình đã chuẩn bị sẵn.

 - Sự nhiệt tình: chứng tỏ quan điểm rõ ràng và tích cực, niềm yêu thích về chủ đề bạn đang nói thông qua giọng nói và các biểu cảm trên nét mặt.

- Giao tiếp bằng mắt (eye contact): phải duy trì sự giao tiếp bằng mắt với khán giả để tăng sự tin cậy, tăng sự thích thú, tập trung nơi khán giả, và bạn cũng có thể nhận ra được sự phản hồi ngầm từ khán giả đối với bài thuyết trình của mình.

 - Sự rõ ràng: phát âm rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ phù hợp với khán giả của bạn.

 b. Ngôn ngữ cử chỉ̉: - Cách đi đứng: một dáng điệu và sự di chuyển tốt sẽ truyền tải được sự tự tin, chuyên nghiệp, và đáng tin cậy ở chính bạn.

 - Điệu bộ: giữ điệu bộ của bạn một cách tự nhiên, tránh những cử chỉ lặp lại. Dùng cử chỉ của bạn để nhấn mạnh các điểm chính và thu hút sự chú ý nơi khán giả.

c. Phương tiện trợ giúp (visual aid): Thường là powerpoint, tranh ảnh, đồ thị… Các phương tiện nhìn nên

: - Đủ lớn để khán giả có thể thấy rõ.

 - Được đặt tại vị trí dễ nhìn.

 - Đơn giản và dễ hiểu

    Chúc các bạn sớm thành công với kỹ năng thuyết trình của mình!

 

Bí quyết tư vấn bán hàng qua điện thoại đạt hiệu quả cao

 BÁN HÀNG QUA ĐIỆN THOẠI LÀ GÌ?

Bán hàng qua điện thoại hay còn gọi là Telemarketing đang được rất nhiều các doanh nghiệp áp dụng, đặc biệt các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Đây là một phương pháp marketing trực tiếp mà thông qua đó một người bán hàng sử dụng điện thoại để thuyết phục và quảng cáo sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ của công ty hay của mình đến với khách hàng tiềm năng thông qua điện thoại.


Các chiến dịch áp dụng kỹ năng bán hàng qua điện thoại hiệu quả

kỹ năng bán hàng qua điện thoại hiệu quả
Kỹ năng bán hàng qua điện thoại hiệu quả
Các doanh nghiệp sử dụng hình thức bán hàng qua điện thoại với nhiều mục đích khác nhau. Tùy từng thời gian, loại hình kinh doanh và mục đích của các chiến lược marketing, thì sẽ áp dụng các chiến dịch bán hàng qua điện thoại phù hợp. Có 6 chiến dịch chính trong quá trình áp dụng hình thức bán hàng qua điện thoại:
  1. Tìm kiếm khách hàng và bán hàng - output: đây là hoạt động gọi điện đến từng đối tượng mục tiêu chào bán các sản phẩm, dịch vụ theo một kịch bản định trước. TeleSales còn được sử dụng trong các chiến dịch đưa sản phẩm mới vào thị trường và mở rộng mạng lưới phân phối.
  2.  Điều tra thị trường qua điện thoại - output : Là động tác thực hiện các cuộc gọi để điều tra, nghiên cứu chi tiết về thị trường hoặc một vị trí địa lý nào đó nhằm thu thập các dữ liệu về thái độ, ấn tượng, quan điểm, mức độ thỏa mãn của đối tượng cư trú. Điểm nổi bật của phương thức điều tra này là khả năng phản hồi của khách hàng khá cao, từ 30%-40%.
  3. Truyền thông cho các chiến dịch, sự kiện - output : chiến dịch dùng điện thoại khuếch trương và truyền thông nhanh chóng đến các đối tượng cụ thể về các sự kiện như: Khuyến mãi, giảm giá ...; Hội nghị, seminar (gọi để giới thiệu, đặt chỗ, nhắc hẹn ).. 
  4. Khảo sát mức độ hài lòng của khách hàng-output  : Là hoạt động thực hiện các cuộc gọi đến đối tượng khách hàng quen thuộc để đo lường và phân tích sự thỏa mãn của họ. Đây là yếu tố cần thiết để các công ty có thể cung cấp dịch vụ khách hàng hoàn hảo. 
  5. Chăm sóc và bán hàng cho các khách hàng cũ-output  : Khác với cách chăm sóc khách hàng thụ động, sales chỉ việc thực hiện các cuộc gọi đến đối tượng khách hàng cũ để chăm sóc, thăm hỏi, xây dựng mối quan hệ, đôi khi là giới thiệu về sản phẩm mới, những chiến dịch ưu đãi. Mục đích là mở rộng doanh số bán hàng với các khách hàng này. 
  6. Tư vấn hỗ trợ, giúp đỡ (input): Dành cho mọi sản phẩm, dịch vụ. Ta vẫn hay thấy có một số điện thoại được in trên bao bì hoặc tờ rơi, các thông tin quảng cáo... VD: 0982 463 980 Khi khách hàng tìm năng có nhu cầu hay có bất kỳ thắc mắc gì về sản phẩm có thể gọi để gặp nhân viên kinh doanh nhận cuộc gọi và tư vấn cho khách hàng.  

Ưu nhược điểm của bán hàng qua điện thoại

  Mỗi phương pháp bán hàng, đều có những ưu điểm và hạn chế của nó. Bán hàng qua điện thoại cũng có những ưu điểm và hạn chế của nó:
  • ƯU ĐIỂM:
-    Thông tin dịch vụ, sản phẩm nhanh được khách hàng tiềm năng biết đến.
-    Hiểu rõ nhu cầu của khách hàng.
-    Nhanh chóng nhận được phản hồi.
  • NHƯỢC ĐIỂM:
-    Sức nặng tâm lý.
-    Phiền đến khách hàng khi khách hàng đang có việc bận.
-    Khó nắm bắt được tâm lý khách hàng do không được gặp mặt trực tiếp
-   Việc mô tả lợi ích tính năng bị hạn chế vì chỉ có thể thông qua giọng nói
-   Đòi hỏi cao về kỹ năng giao tiếp, xử lý

Kỹ năng bán hàng qua điện thoại hiệu quả

Như đã phân tích ở trên, đây là công việc đòi hỏi kỹ năng khéo léo trong giao tiếp, xử lý tình huống và kiến thức sâu về sản phẩm. Muốn vậy, người bán hàng phải có kỹ năng bán hàng qua điện thoại hiệu quả?

Rất nhiều bạn mới tham gia vào việc tư vấn bán hàng qua điện thoại, thường cảm thấy ngại ngùng, ấp úng và không biết nói gì với khách hàng. Nhiều bạn cảm thấy bế tắc khi không thuyết phục được khách hàng, cảm thấy "nản" khi bị khách hàng từ chối quá nhiều, và không biết làm thế nào để "chốt" khách hàng, khi họ rđã quan tâm đến chương trình của bên mình. Vậy làm thế nào để trở thành một Telemaketer giỏi, làm cách nào để bán hàng qua điện thoại đạt hiệu quả cao???????? Các bạn nên lưu ý các bí quyết dưới đây nhé. ^_^

bí quyết bán hàng qua điện thoại hiệu quả

  •  Đầu tiên bạn cần lưu ý là âm điệu giọng nói, hãy điều chỉnh âm thanh thật dễ nghe, dễ chịu và cuốn hút, điều này sẽ tạo thuận lợi để duy trì buổi nói chuyện thuận lợi.
  • Từ 10-20 giây đầu tiên, bạn cần giới thiệu ngắn gọn sản phẩm thật ấn tượng (bạn có thể tham khảo bài viết tạo ấn tượng bán hàng từ giới thiệu 10s đầu tiên). Tất nhiên, những câu từ chối như "Cảm ơn, không cần đâu em!" sẽ thường xuyên xảy ra. Thay vì nản lòng, bạn hãy nhiệt tình, vui vẻ đưa thêm ra một câu hỏi khác liên quan đến quyền lợi khách hàng vì bạn  là người chủ động, tìm cách thu hút sự chú ý của khách hàng.
  • Nếu khách hàng đang bận rộn, bạn có thể hỏi thời gian nào là lý tưởng, bạn  xin một cái hẹn gọi lại để chào hàng một cách đầy đủ nhất.
  • Tinh tế cảm nhận mức độ quan tâm của khách hàng thông qua câu trả lời và âm điệu của họ để bạn  điều chỉnh nội dung cuộc nói chuyện. Phân tích vấn đề nào khiến khách hàng quan tâm nhất như nhu cầu, giá cả, khả năng trả góp, chương trình khuyến mãi hay thương hiệu của sản phẩm,...
  • Khi khách hàng đã bắt đầu lắng nghe và thể hiện sự quan tâm đến giá trị và lợi ích của sản phẩm, bạn hãy chuẩn bị trước cho mình những câu hỏi và câu trả lời mà khách hàng có thể đặt ra, kể cả những câu hỏi bất ngờ.
  • Nên lưu ý đến thời gian gọi, tránh tạo cảm giác làm phiền cho khách hàng lúc sáng sớm, giờ nghỉ trưa, giờ dùng bữa hay lúc quá khuya.

 Phương pháp bán hàng qua điện thoại

  1. Chuẩn bị kỹ nội dung cuộc gọi: Không chuẩn bị là chuẩn bị cho sự thất bại, trước khi gọi điện thoại hãy tìm hiểu thật kỹ  lưỡng những thông tin về khách hàng và nếu có thể hãy thu thập mọi thông tin cần thiết. Cố gắng chuẩn bị các thông tin, phải có cấu trúc ngắn gọn, rõ ràng. Lập ra các thông tin về mục đích của cuộc gọi, thông tin cần trao đổi và những câu trả lời cho những tình huống có thể khách hàng hỏi lại bắt bí... Sự chuẩn bị càng kỹ thì sự thành công càng cao.
  2. Luyện tập trước các cuộc gọi: Nếu mới vào nghề nên học hỏi và làm thử, nhờ sự hỗ trợ của mọi người và công ty để có thêm những kinh nghiệm nhằm tránh những sai sót có thể xảy ra trong khi thực hiện cuộc gọi.
  3. Cơ thể và tâm lý thư giản, thoải mái : 80% là giọng nói và 20% là trao đổi và sự đánh giá hiệu quả của Sales Phone, thoải mái, giọng nói truyền tải chính xác, không gò bó, áp chế. Hãy nói chuyện vui vẻ và tôn trọng. Bình tĩnh là điều quan trọng nhất, khach hàng là thượng đế vì vậy họ hay nổi cấu, nói thẳng thừng thì mình vẫn phải bình tĩnh, giải thích cặn kẽ mới mong thuyết phục được họ. Kiên nhẫn nữa.
  4. Lắng nghe và hỏi  : Phải biết lắng nghe, lắng nghe và lắng nghe khách hàng nói, nếu các  thông tin chưa biết rõ ràng nên hỏi thẳng. Cần hỏi các nội dung xoay quanh về lời ích cho khách hàng.
  5. Vượt qua thư ký  : Không dễ để tiếp cận người có quyền quyết định trong công ty, thử thách đầu tiên cần vượt qua là thư ký. Nhiều thất bại là không biết vượt qua cải ải này. Hãy đi thẳng vào vấn đề là bạn đang cung cấp cái gì, lợi ích như thế nào và ai có quyền để quyết định nhất. Nếu biết thông tin người quản lý thì hay nhất là nói tên người đó, cho gặp trực tiếp.
  6. Thu hút sự chú ý của khách hàng : Đi trực tiếp vào vấn đề bằng giọng nói chuyên nghiệp, ấm áp, tôn trọng! Đầu tiên là Chào, Giới thiệu, Đưa đến dịch vụ gì? Nếu xin được một cuộc hẹn gặp thì 30 hay 1h thì khó vậy thời gian hẹn là 5 hay 10 phút.
  7. Cho khách hàng lựa chọn Nếu là người bán hàng chuyên nghiệp thì phải đưa ra 2 phương pháp cho khách hàng lựa chọn, khách hàng quyết định cuối cùng là sự lựa chọn 1 trong 2. Kết thúc một cuộc gọi phải mở đường cho cuộc gọi tiếp theo.
  8. Tổng kết: Sau một ngày làm việc cùng chiếc điện thoại và tiếp xúc với khách hàng, bạn nên thường xuyên rút ra kinh nghiệm sau mỗi cuộc gọi. Đưa ra bài học để lần sau làm tốt hơn, không nên lấy khách hàng làm nơi test thử khả năng của bạn. Ghi lại các thông tin cần thiết, khách hàng nói không: không phải là không mua hàng mà là chưa phải lúc này hoặc không phải người có đủ thẩm quyền quyết định vậy hãy suy nghĩ và tiệp cận một phương pháp mới hơn.

HÃY RA NHẬP NHÓM PHỤ NỮ BÁN HÀNG ONLINE để được học bán hàng miễn phí nhé.
Phụ Nữ Bán Hàng Online
Facebook Group · 48,962 members
Join Group
Thầy Hán Quang Dự cùng các chuyên gia chia sẻ miễn phí các kiến thức bán hàng online cho chị em phụ nữ.

Bài học kinh doanh của người ăn mày đẳng cấp

Một câu chuyện rất ý nghĩa và hay về tư duy bán hàng. Đây là một câu chuyện bạn không thể bỏ qua. Câu chuyện kể về một người ăn máy, bạn có tin một người ăn mày sử dụng phân tích SWOT để lựa chọn khách hàng, đánh đúng mục tiêu và tạo ra nguồn thu nhập dồi dào cho mình.

Bài học kinh doanh của người ăn mày đẳng cấp
Bài học kinh doanh của người ăn mày đẳng cấp
TIN Xem thêm: TIN TỨC MỚI NHẤT VỀ NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH

Câu chuyện như sau:

" Tôi xách túi đồ nhãn hiệu Gucci ra khỏi Hùng Vương Plaza rồi đứng lại ở cửa chờ bạn. Một tay ăn mày chuyên nghiệp phát hiện ra tôi, sán tới đứng trước mặt.. Câu chuyện của tôi chỉ có thế thôi. Thế nhưng tay ăn mày đã dạy tôi một bài học kinh tế còn sâu sắc hơn một khoá học maketting ở trường.

Tôi kể câu chuyện này chính bởi ý nguyện của tay ăn mày đó.
- Xin anh… cho tôi ít tiền đi! – Tôi đứng đó chả có việc gì nên tiện tay vứt cho hắn đồng tiền xu, rồi bắt chuyện cùng nhau. Ăn mày rất thích kể lể.
- Tôi chỉ ăn mày quanh khu mua sắm này thôi, anh biết không? Tôi chỉ liếc một phát là thấy anh ngay. Đi mua Gucci ở Plaza chắc chắn nhiều tiền…
- Hả? Ông cũng hiểu đời phết nhỉ! – Tôi ngạc nhiên.
- Làm ăn mày, cũng phải ăn mày cho nó có khoa học! – Ông ta bắt đầu mở máy.
Tôi ngẫm nghĩ một lát, thấy thú vị bèn hỏi: Thế nào là ăn mày một cách khoa học? Tôi nhìn kỹ ông ta, đầu tóc rối bù, quần áo rách nát, tay gầy giơ xương, nhưng lại sạch sẽ.
Ông ta giảng giải:
- Ai chẳng sợ và ghét ăn mày, nhưng tôi tin anh không ghét tôi, tôi đoán chắc điều đó. Đấy là điểm tôi khác biệt với những thằng ăn mày khác. Tôi gật đầu đồng ý, đúng là tôi không ghét ông ta, nên tôi đang nói chuyện với ông ta đấy thôi. Ông ta nói tiếp:
- Tôi biết phân tích SWOT, những ưu thế, bất lợi, những cơ hội và nguy cơ. Đối mặt với những thằng ăn mày là đối thủ cạnh tranh của tôi, ưu thế (Strengths) của tôi là tôi không làm người ta phản cảm, lánh sợ. Cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) thì chỉ là những yếu tố điều kiện bên ngoài thuộc về hoàn cảnh, có thể là dân số ở đây đông hay vắng, thành phố có quyết định chỉnh trang đô thị, dẹp hè phố chăng…
- …???
- Tôi đã từng tính toán rất cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ) rằng, khu vực thương mại này người qua lại đông, mỗi ngày khoảng mười nghìn người, nghèo thì nhiều lắm, nhưng người giàu còn nhiều hơn. Trên phương diện lý luận thì giả như mỗi ngày tôi xin được mỗi người một đồng xu một nghìn đồng, thì mỗi tháng thu nhập của tôi đã được ba trăm triệu đồng. Nhưng thực tế thì đâu phải ai cũng cho ăn mày tiền, mà một ngày làm sao tôi đi xin được mười nghìn lượt người. Vì thế, tôi phải phân tích, ai là khách hàng mục tiêu của tôi, đâu là khách hàng tiềm năng của tôi.
Ông ta lấy giọng nói tiếp:
- Ở khu Diamond Plaza này thì khách hàng mục tiêu của tôi chiếm khoảng 30% số lượng người mua sắm, tỉ lệ thành công khoảng 70%. Lượng khách hàng tiềm năng chiếm khoảng 20%, tỉ lệ thành công trên đối tượng này khoảng 50%. Còn lại 50% số người, tôi chọn cách là bỏ qua họ, bởi tôi không có đủ thời gian để tìm vận may của mình với họ, tức là xin tiền họ.
- Thế ông định nghĩa thế nào về khách hàng của ông? – Tôi căn vặn.
- Trước tiên, khách hàng mục tiêu nhé. Thì những nam thanh niên trẻ như anh đấy, có thu nhập, nên tiêu tiền không lưỡng lự. Ngoài ra các đôi tình nhân cũng nằm trong đối tượng khách hàng mục tiêu của tôi, họ không thể mất mặt trước bạn khác phái, vì thế đành phải ra tay hào phóng. Rồi tôi chọn các cô gái xinh đẹp đi một mình là khách hàng tiềm năng, bởi họ rất sợ bị lẽo đẽo theo, chắc chắn họ chọn cách bỏ tiền ra cho rảnh nợ.. Hai đối tượng này đều thuộc tầm tuổi 20-30. Nếu tuổi khách hàng nhỏ quá, họ không có thu nhập, mà tuổi già hơn, thì họ có thể đã có gia đình, tiền bạc bị vợ cầm hết rồi. Những ông chồng đó biết đâu có khi đang âm thầm tiếc hận rằng không thể ngửa tay ra xin tiền của tôi ấy chứ!
- Thế thì mỗi ngày ông xin được bao nhiêu tiền?
- Thứ hai đến thứ sáu, sẽ kém một chút, khoảng hai trăm nghìn. Cuối tuần thậm chí có thể 400-500 nghìn.
- Hả? Nhiều vậy sao?
Thấy tôi nghi ngờ, ông ta tính cho tôi thấy:
- Tôi cũng khác gì anh, tôi cũng làm việc tám giờ vàng ngọc. Buổi sáng từ 11h đến tối 7h, cuối tuần vẫn đi làm như thường. Mỗi lần ăn mày một người tôi mất khoảng 5 giây, trừ đi thời gian tôi đi lại, di chuyển giữa các mục tiêu, thường một phút tôi xin được một lần được một đồng xu 1 nghìn, 8 tiếng tôi xin được 480 đồng một nghìn, rồi tính với tỉ lệ thành công 60% [(70%+50%)÷2] thì tôi được khoảng 300 nghìn.
Chiến lược ăn mày của tôi là dứt khoát không đeo bám khách chạy dọc phố. Nếu xin mà họ không cho, tôi dứt khoát không bám theo họ. Bởi nếu họ cho tiền thì đã cho ngay rồi, nếu họ cho vì bị đeo bám lâu, thì tỉ lệ thành công cũng nhỏ. Tôi không thể mang thời gian ăn mày có giới hạn của tôi để đi lãng phí trên những người khách này, trong khi tôi có thể xoay ngay sang mục tiêu bên cạnh.
Trời, tay ăn mày này có đầu óc quá đi, phân tích như thể giám đốc kinh doanh hoặc giám đốc tiếp thị vậy.
- Ông nói tiếp đi! – Tôi hào hứng.
- Có người bảo ăn mày có số may hay xui, tôi không nghĩ thế. Lấy ví dụ cho anh nhé, nếu có một thanh niên đẹp trai và một phụ nữ xinh đẹp đứng trước cửa shop đồ lót mỹ phẩm, thì anh sẽ chọn ai để ăn mày?
Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo, tôi không biết.
- Anh nên đi đến xin tiền anh thanh niên kia. Vì đứng bên anh ta là một phụ nữ đẹp, anh ta chẳng lẽ lại không cho ăn mày tiền. Nhưng nếu anh đi xin cô gái đẹp, cô ta sẽ giả vờ là ghê sợ anh rồi lánh xa anh.
Thôi cho anh một ví dụ nữa: Hôm nọ đứng ở cửa siêu thị BigC có một cô gái trẻ tay cầm túi đồ vừa mua từ siêu thị, một đôi nam nữ yêu nhau đang đứng ăn kem, và một anh chàng đóng bộ công chức chỉnh tề, tay xách túi đựng máy tính xách tay. Tôi chỉ nhìn họ ba giây, sẽ không ngần ngừ bước thẳng tới mặt cô gái trẻ xin tiền, cô gái cho tôi hẳn hai đồng xu, nhưng ngạc nhiên hỏi tôi tại sao chỉ xin tiền có mỗi cô ta. Tôi trả lời rằng, cái đôi tình nhân kia đang ăn, họ không tiện rút ví ra cho tiền, anh kia trông có vẻ lắm tiền, trông như sếp nhưng vì thế trên người họ thường không có sẵn tiền lẻ.. Còn cô vừa mua sắm ở siêu thị ra, cô tất còn ít tiền thừa, tiền lẻ.
Chí lý, tôi càng nghe tay ăn mày nói càng tỉnh cả người ra.
- Cho nên tôi bảo rồi, tri thức quyết định tất cả!
Tôi nghe sếp tôi nói bao lần câu này, nhưng đây là lần đầu tôi nghe một thằng ăn mày nói câu này.
- Ăn mày cũng phải mang tri thức ra mà ăn mày. Chứ ngày ngày nằm ệch ra ở xó chợ, cầu thang lên đường vượt giao lộ, xin ai cho được tiền? Những người đi qua giao lộ, chạy qua cổng chợ đều vội vàng hoặc cồng kềnh, ai ra đấy mà chơi bao giờ, ra đấy xin chỉ mệt người. Phải trang bị tri thức cho chính mình, học kiến thức mới làm người ta thông minh lên, những người thông minh sẽ không bao giờ ngừng học hỏi kiến thức mới. Thế kỷ 21 rồi, bây giờ người ta cần gì, có phải là cần nhân tài không?
Có lần, có một người cho tôi hẳn 50 nghìn, nhờ tôi đứng dưới cửa sổ gào: “Hường ơi, anh yêu em”, gào 100 lần. Tôi tính ra gọi một tiếng mất 5 giây, thời gian cũng tương tự như tôi đi ăn mày một lần, nhưng lợi nhuận đạt được chỉ 500 đồng, còn kém đi ăn mày, thế là tôi từ chối.
Ở đây, nói chung một tay ăn mày một tháng có thể đi xin được một nghìn hoặc tám trăm lần. Người nào may mắn thì cùng lắm đi xin được khoảng hai nghìn lần. Dân số ở đây khoảng 6 triệu, ăn mày độ trăm anh, tức là tôi cứ khoảng mười nghìn người dân mới ăn mày một người. Như thế thu nhập của tôi ổn định, về cơ bản là cho dù kinh tế thế giới đi lên hay đi xuống, tình hình xin tiền của tôi vẫn ổn định, không biến động nhiều.
Trời, tôi phục tay ăn mày này quá!
- Tôi thường nói tôi là một thằng ăn mày vui vẻ. Những thằng ăn mày khác thường vui vì xin được nhiều tiền. Tôi thường bảo chúng nó là, chúng mày nhầm rồi. Vì vui vẻ thì mới xin được nhiều tiền chứ.
Quá chuẩn!
- Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại. Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Tối về tôi dắt vợ và con đi chơi ngắm trời đêm, nhà ba người nói cười vui vẻ, có lúc đi đường gặp đồng nghiệp, tôi có khi cũng vứt cho họ một đồng xu, để thấy họ vui vẻ đi, nhìn họ như nhìn thấy chính mình.
- Ối ông cũng có vợ con?
- Vợ tôi ở nhà làm bà nội trợ, con tôi đi học. Tôi vay tiền ngân hàng HSBC mua một căn nhà nhỏ ở Phú Mỹ Hưng, trả nợ dần trong mười năm, vẫn còn sáu năm nữa mới trả hết. Tôi phải nỗ lực kiếm tiền, con tôi còn phải học lên đại học, tôi sẽ cho nó học Quản trị kinh doanh, Marketing, để con tôi có thể trở thành một thằng ăn mày xuất sắc hơn bố nó.
Tôi buột miệng:
- Ông ơi, ông có thu nhận tôi làm đệ tử không?

TIN Xem thêm: TIN TỨC MỚI NHẤT VỀ NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH

ĐỀ 13 : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

NGUYỄN THU HỒNG ĐÀO TẠO CATHAY

ĐỀ 13 : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM


1. So với các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ truyền thống, bảo hiểm liên kết đầu tư có những khác biệt cơ bản nào dưới đây: A. Bên mua bảo hiểm lựa chọn hình thức tiết kiệm và đầu tư.
B. Bên mua bảo hiểm hưởng mọi lợi nhuận và chịu mọi rủi ro từ kết quả đầu tư.
C. Người bảo hiểm chịu mọi rủi ro từ kết quả đầu tư.
D. A,B đúng.
 2. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức:A. Công ty TNHH bảo hiểm.
B. Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài.
C. Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
D. A,C đúng.
 

3. Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, trường hợp bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm tài sản dưới giá trị, khi xảy ra tổn thất thì:


A. Người bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ. Số tiền bồi thường bằng tổn thất thực tế (x) số tiền  bảo hiểm/giá thị trường của tài sản được bảo hiểm.
B. Người bảo hiểm bồi thường theo đúng giá trị của tài sản tại thời điểm tham gia bảo hiểm.
C. Người bảo hiểm bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm tổn thất.
D. Không có trường hợp nào đúng.

4. Trường hợp tổn thất toàn bộ lô hàng nhập khẩu, ngoài số tiền bảo hiểm, Doanh nghiệp bảo hiểm còn phải bồi thường các khoản sau:

A. Chi phí cứu hàng tổn thất.
B. Chi phí tổn thất chung
C. Chi phí bảo vệ hàng bị tổn thất.
D. A,B,C đúng.

5. Câu nào đúng trong các câu sau đây:
A. Số tiền bảo hiểm không được lớn hơn giá trị bảo hiểm của tài sản.
B. Số tiền bảo hiểm có thể thấp hơn giá trị bảo hiểm của tài sản.
C. Giá trị bảo hiểm tài sản là cơ sở xác định số tiền bảo hiểm.
D. A,B,C đúng.
6. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp:

A. Sự kiện xảy ra không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
B. Sự kiện bảo hiểm xảy ra thuộc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
C. Sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn nộp phí bảo hiểm.
D. A, B đúng

7. Phạm vi bảo hiểm đối với nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn hành khách đi lại trong nước là:
A. Tai nạn xảy ra khi hành khách đang ở trên xe.
B. Tai nạn xảy ra khi hành khách đang lên xe và/hoặc đang ở trên xe.
C. Tai nạn xảy ra khi hành khách đang ở trên xe và/hoặc đang lên, xuống xe.
D. A,B,C đúng

8. Khi chấm dứt hợp đồng đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:
A. Thông báo cho Bộ Tài chính và Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
B. Chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu xếp, giao kết
C. A, B đúng
D. A, B sai

9. Việc đền bù theo loại hình bảo hiểm trùng diễn ra khi:
A. Đối tượng được bảo hiểm được bảo vệ bằng ít nhất 2 hợp đồng bảo hiểm.
B. Rủi ro gây nên tổn thất đều thuộc rủi ro được bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng đó
C. Tổn thất xảy ra khi các hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng đó còn hiệu lực.
D. A,B,C đúng.
10. Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm kể từ khi:
A. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.
B. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm.
C. Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.
D. A hoặc B hoặc C.


1-D
2-D
3-A
4-D
5-D
6-D
7-D
8-C
9-D
10-D

 (Tự chấm trên thang điểm 10 .Đạt 8 điểm mới qua kỳ thi 


ĐỀ 12 : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

NGUYỄN THU HỒNG ĐÀO TẠO CATHAY


ĐỀ 12 : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
1. Trong bảo hiểm hàng hóa, số tiền bảo hiểm có thể:A. Thấp hơn giá trị bảo hiểm (bảo hiểm dưới giá trị)
B. Cao hơn giá trị bảo hiểm nhưng tối đa không vượt quá 110% giá CIF.
C. Cao hơn giá trị bảo hiểm (vượt quá 110% giá CIF).
D. A,B đúng.
 2.Doanh nghiệp được phép chủ động xây dựng và triển khai Quy tắc, điều kiện và biểu phí bảo hiểm đối với các sản phẩm bảo hiểm thuộc:
 A. Nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ (trừ bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Nhà nước)
B. Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ.
C. Các sản phẩm bảo hiểm đặc thù.
D. B,C đúng.
 

 3. Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ phải thông báo cho Hiệp hội bảo hiểm:

A. Danh sách đại lý bảo hiểm có doanh thu lớn
B. Danh sách đại lý bảo hiểm không hoạt động
C. Danh sách các đại lý bảo hiểm bị doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng đại lý do vi phạm pháp luật, quy tắc hành nghề
D. A, B, C đúng

4. Phạm vi của bảo hiểm tín dụng tiêu dùng là bảo hiểm cho người đi vay trong thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng khi xảy ra các trường hợp người được bảo hiểm bị rủi ro:
A. Thương tật nặng hoặc bệnh nặng.
B. Mất việc.
C. Tử vong do tai nạn.
D. A,B,C đúng.

5. Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm được Bộ Tài chính phê chuẩn đối với các sản phẩm bảo hiểm thuộc:
A. Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ.
B. Nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ.
C. Nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe.
D. A,C đúng.

6. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tiến hành bán bảo hiểm thông qua kênh phân phối nào dưới đây:
A. Trực tiếp.
B. Đại lý bảo hiểm
C. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
D. Cả A,B,C.

7. Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành:
A. Bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
B. Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe.
C. Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.
D. Cả A,B,C

8. Đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là:

A. Trách nhiệm pháp lý phải bồi thường của người được bảo hiểm đối với những thiệt hại bất ngờ về người và tài sảncủa bên thứ ba do hàng hóa của người được bảo hiểm cung cấp, sửa chữa, thay thế có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh do họ thực hiện
B. Trách nhiệm đối với thiệt hại về tài sản và tính mạng, sức khỏe của bên thứ ba khi sự kiện xảy ra trên địa bàn và từ hoạt động của người được bảo hiểm.
C. Trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm phát sinh từ những lỗi, thiếu sót, bất cẩn của người được bảo hiểm hay nhân viên hay người làm công của người được bảo hiểm trong khi thực hiện các công việc chuyên môn của mình.
D. Cả A,B,C.

9. Doanh nghiệp bảo hiểm không được chi trả hoa hồng bảo hiểm cho nội dung nào dưới đây:
A. Chi phí khai thác ban đầu (tìm hiểu, thuyết phục và giới thiệu khách hàng)
B. Chi phí thu phí bảo hiểm
C. Hỗ trợ giảm phí bảo hiểm và/hoặc khuyến mại khách hàng tham gia bảo hiểm
D. Cả A, B, C

10. Việc đền bù theo loại hình bảo hiểm trùng diễn ra khi: Đối tượng được bảo hiểm được bảo vệ ít nhất 2 hợp đồng bảo hiểm.

A.    Đối tượng được bảo hiểm được bảo vệ bằng ít nhất hai hợp đồng bảo hiểm
B.     Rủi ro gây nên tổn thất đều thuộc rủi ro được bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng đó
C.     Tổn thất xảy ra khi các hợp đồng bảo hiểm cho đối tượng đó còn hiệu lựu

D.    A,B,C đúng.


  1-D
2-A
3-C
4-D
5-D
6-D
7-B
8-C
9-C
10-D

 (Tự chấm trên thang điểm 10 .Đạt 8 điểm mới qua kỳ thi )


ĐỀ 11 : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

NGUYỄN THU HỒNG ĐÀO TẠO CATHAY

ĐỀ 11 : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM


1. . Doanh nghiệp được phép chủ động xây dựng và triển khai Quy tắc, điều kiện và biểu phí bảo hiểm đối với các sản phẩm bảo hiểm thuộc:
 A. Nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ (trừ bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Nhà nước)
B. Nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ.
C. Các sản phẩm bảo hiểm đặc thù.
D. B,C đúng.
2. Bên mua bảo hiểm có quyền:
 A. Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
B. Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm.
C. Từ chối cung cấp thông tin về đối tượng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.
D. A,B đúng.

3. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

A. Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm.
B. Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
C. Ứng trước tiền cho bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm hoặc giảm phí bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm gặp khó khăn về tài chính
       D. A và B đúng
4. Đại lý bảo hiểm có thể:

A. Sửa đổi, bổ sung quy tắc, điều khoản bảo hiểm cho phù hợp với tình hình thực tế của khách hàng
B. Giảm phí bảo hiểm để khuyến khích khách hàng tham gia bảo hiểm
C. A, B sai
       D. A, B đúng
5. Khi định phí bảo hiểm, người bảo hiểm phải đánh giá rủi ro khi áp vào một đối tượng bảo hiểm theo:

A. Rủi ro gốc.
B. Tình tiết rủi ro.
C. Rủi ro gốc và tình tiết rủi ro.
D. Không có trường hợp nào đúng.
6. Đặc điểm của bảo hiểm tử kỳ cố định là:

A. Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.
B. Người bảo hiểm chắc chắn phải trả tiền cho người được bảo hiểm.
C. Mang tính chất tích lũy, tiết kiệm đối với người tham gia bảo hiểm.
D. Cả A,B,C.
7. Điều nào sau đây là đúng khi nói về  trường hợp đồng bảo hiểm:

A. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm theo cùng điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm … trong hợp đồng bảo hiểm
B. Các doanh nghiệp áp dụng nguyên tắc cùng chia sẻ quyền lợi (phí bảo hiểm) và trách nhiệm (bồi thường, chi phí) theo tỷ lệ.
C. Thông thường các doanh nghiệp ủy quyền cho 1 doanh nghiệp bảo hiểm làm đầu mối thương thảo hợp đồng bảo hiểm, giải quyết tổn thất
D. A,B,C đúng.

8. Điền lần lượt vào chỗ còn thiếu trong câu dưới đây:
Đại lý bảo hiểm là _____ được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo qui định của _____ :

A. Tổ chức, cá nhân/Luật kinh doanh bảo hiểm
B. Tổ chức/Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật có liên quan
C. Tổ chức, cá nhân/Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật có liên quan
D. Cá nhân/Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật có liên quan

9. Các trường hợp nào sau đây là đúng theo thuật ngữ bảo hiểm:

A. Bên mua bảo hiểm (hay người tham gia bảo hiểm) là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo  hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
B. Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng  được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng.
C. Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểmchỉ định để nhận tiền bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm con người.
D. A, B, C đúng

10. Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, trường hợp bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm tài sản trên giá trị, khi xảy ra tổn thất thì:

A. Người bảo hiểm bồi thường theo đúng giá trị của tài sản được bảo hiểm.
B. Người bảo hiểm bồi thường theo giá trị của tài sản tham gia bảo hiểm.
C. Người bảo hiểm bồi thường thấp hơn giá thực tế của tài sản tham gia bảo hiểm.

D. Không có trường hợp nào đúng.


1-A
2-D
3-D
4-C
5-C
6-A
7-D
8-C
9-D
10-A



 (Tự chấm trên thang điểm 10 .Đạt 8 điểm mới qua kỳ thi )

 
Ky nang ban hang ky-nang-ban-hang
10 10 1125 (c) by
Google kiến thức về bảo hiểm